Kiến thức về bảo hiểm nhân thọ P5

Bảo hiểm nhân thọ bắt đầu mùa kinh doanh sớm

Câu  hỏi  107. Tỷ lệ tử vong là gì? Nó ảnh hưởng như thế nào đến việc tính toán phí bảo

hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm?

Trả  lời:Tỷ lệ tử vong (tỷ lệ chết) là tỷ lệ giữa số người chết trong một khoảng thời gian nhất

định và tổng số người sống lúc khởi đầu thời gian đó. Ngược lại, tỷ lệ sinh tồn (tỷ lệ sống) là tỷ

lệ giữa số người còn sống sau một khoảng thời gian nhất định và tổng số  người sống lúc khởi đầu thời gian đó.

Thông thường, khoảng thời gian được dùng để tính tỷ lệ tử vong và tỷ lệ sinh tồn là 01 năm. Tỷ lệ tử vong và tỷ lệ sinh tồn được xác định theo giới tính và độ tuổi.

Tỷ lệ tử vong theo từng độ tuổi có thể xác định được bằng cách điều tra số lượng các thành viên và số tử vong tương ứng của một tập hợp người nào đó trong một thời kỳ nhất định. Sau khi

xác định được tỷ lệ tử vong theo các độ tuổi, người ta có thể lập một bảng thể hiện sự thay đổi về

số sống và số tử vong theo các độ tuổi từ thấp đến cao. Trong đa số các trường hợp, độ tuổi đầu tiên được đưa vào  bảng  là 0 tuổi và độ  tuổi cuối cùng trong bảng  là độ tuổi mà không ai còn sống. Một bảng như vậy gọi là bảng tỷ lệ tử vong.

Có hai loại bảng tỷ lệ tử vong: bảng tỷ lệ tử vong dân số và bảng tỷ lệ tử vong kinh nghiệm. Bảng tỷ lệ tử vong dân số được lập trên cơ sở số  liệu thống kê thu thập được từ các cuộc

điều tra dân số. Bảng này cho biết mức tử vong của dân số của một nước hoặc một vùng cụ thể

nào đó.

Bảng tỷ lệ tử vong kinh nghiệm được lập trên cơ sở số  liệu thống kê của các công ty bảo hiểm nhân thọ. Bảng này cho biết tình hình tử vong thực tế của những người được bảo hiểm tại

các công ty bảo hiểm nhân thọ. Bảng tỷ lệ tử vong kinh nghiệm được sử dụng để tính phí và dự phòng trong bảo hiểm nhân thọ.

Bảng tỷ lệ tử vong có đặc điểm chung:

– Tỷ lệ tử vong tăng dần theo độ tuổi (bắt đầu từ một độ tuổi nhất định);

– Tỷ lệ tử vong của nam giới cao hơn tỷ lệ tử vong của nữ giới.

Câu hỏi 108. Lãi suất kỹ thuật là gì, nó ảnh hưởng như thế nào đến việc tính phí bảo hiểm

ca doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ?

Trả lời:Lãi suất được sử dụng để tính phí bảo hiểm nhân thọ được gọi là lãi suất kỹ thuật. Mức

lãi suất này do các công ty bảo hiểm nhân thọ tính toán dựa trên mức  lãi suất hiện tại trên thị trường của các danh mục đầu tư mà các công ty bảo hiểm sẽ sử dụng phí bảo hiểm để đầu tư vào

các lĩnh vực đó. Lãi suất này khi tính phí bảo hiểm được tính theo phương pháp lãi gộp (kép).

Câu  hỏi  109.  Chi  phí  hoạt  động là  gì?  Nó  ảnh hưởng như thế nào  đến việc tính  phí  bảo

hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ?

Trả lời:Chi phí hoạt động là các chi phí mà công ty bảo hiểm nhân thọ phải trang trải trong quá

trình hoạt động. Chi phi hoạt động bao gồm Chi phí hợp đồng mới, Chi phí thu phí và chi phí

quản lý hợp đồng.

– Chi phí hợp đồng mới bao gồm hoa hồng đại lý và chi phí kiểm tra y tế.

– Chi phí thu phí là tiền trả cho người thu phí và chi phí chuyển khoản phát sinh khi thu phí

(nếu có).

– Chi phí quản lý hợp đồng là chi phí phát sinh trong suốt thời hạn bảo hiểm để quản lý hợp đồng. Chi phí quản lý hợp đồng bao gồm:

+ Chi phí quản lý hợp đồng trong thời hạn đóng phí;

+ Chi phí quản lý hợp đồng sau thời hạn đóng phí (nếu có);

Câu hỏi 110. Dự phòng trong bảo hiểm nhân thọ được hiểu như thế nào? có những loại dự

phòng nào?

Trả  lời:Trong bảo hiểm nhân thọ, công ty bảo hiểm là con nợ của những người được bảo hiểm

tại mọi thời điểm trước khi kết thúc hợp đồng. Do đó, công ty bảo hiểm bắt buộc phải lập ra 1 quỹ dự trữ để đảm bảo cho việc thực hiện các cam kết của mình, quỹ dự trữ này còn được gọi là quỹ dự phòng. Có thể thấy được tính cần thiết của việc lập dự phòng qua những phân tích sau:

+ Trong bảo hiểm tử vong: Rủi ro tăng lên theo độ tuổi, nhưng vì lý do thương mại, công

ty bảo hiểm thu phí bình quân (bằng nhau giữa các lần đóng phí). Rõ ràng là trong những năm đầu của hợp đồng thì phí bình quân cao hơn phí tự nhiên tạo ra một số dư nhất định nhưng những năm cuối của hợp đồng thì ngược lại.

Vì vậy, số dư trong những năm đầu của hợp đồng không được coi là lãi của doanh nghiệp

bảo hiểm mà phải được doanh nghiệp sử dụng với mục đích tích lũy để bù đắp cho những thiếu hụt của nửa sau của hợp đồng.

+ Trong bảo hiểm cho trường hợp sống: công ty bảo hiểm phải đưa phần phí thuần (phí được tính chỉ dựa trên 2 giả định là tỷ lệ tử vong và lãi suất kỹ thuật) vào dự trữ để có thể thực hiện các cam kết của mình vào thời điểm đáo hạn hợp đồng.

Quỹ được  thành  lập  bằng  cách tích  lũy phần phí  thặng  dư  nhằm sử  dụng  trong tương  lai được gọi là dự phòng phí bảo hiểm.

Trong bảo hiểm nhân thọ, có rất nhiều các quỹ dự phòng phải lập ra:

– Dự phòng toán học

– Dự phòng rủi ro

– Dự phòng tổn thất phải trả

– Dự phòng rủi ro tăng lên

– Dự phòng cam kết chia lãi

– Dự phòng giảm giá tài sản hiện có.

Trong đó, dự phòng toán học là cơ bản và quan trọng nhất. Nó gắn liền với việc tính toán phí bảo hiểm và thực hiện cam kết của công ty bảo hiểm.

Bảo Việt Nhân Thọ

bảo hiểm sức khỏe | bảo hiểm du học nước ngoài | bảo hiểm du lịch | bảo hiểm bảo việt | bảo hiểm du lịch châu âu | bảo hiểm sức khỏe dầu khí | bảo hiểm dầu khí | hồng hà eco city | chung cu 201 minh khai